
Saigon, Crossroads of Memory and Identity: Where Geography Shapes Destiny
This article delves into how Saigon (now Ho Chi Minh City) has served as a complex intersection of memory and identity from the perspective of Vietnamese emigrants post-1975. It explores how geography has shaped the experiences and cultural fusion of migrants and diverse ethnic groups.
Nguồn hình ảnh, Getty Images "Khi vị Cha già sáng thế nhìn thấy sinh vật mà Ngài đã tạo ra liền quyết định dựng lên ảnh tượng di động của vĩnh hằng… chúng ta gọi là Thời Gian." (Plato, trong Timaeus) Nếu nói theo Plato rằng "Thời gian là ảnh tượng di động của vĩnh hằng" thì tôi xin nói thêm "Không gian là quán trọ của ký ức". Đối với khối dân di cư từ miền Nam qua Mỹ sau 1975 thì Sài Gòn chính là khoảng không gian vẫn còn dung chứa tràn ngập nỗi nhớ cho một thế hệ đang dần mất hết dấu vết quá khứ. Sài Gòn là di ảnh lưu động của một ngôi đền vĩnh hằng mà di dân chúng tôi ở California này vẫn thường đến chiêm bái và vọng tưởng về những gì đã không còn – nhưng nay đã trở nên vĩnh cửu. Khi đứng trước ngọn tháp cao tầng của ký ức, cái không còn chính là thực tại, cái đang là, ảo giác, và cái sẽ là vẫn mãi hư không. Sài Gòn là trạm trung chuyển lớn cho phần đất Trung và Nam bộ. Nơi đó là ga tàu đưa con người tứ xứ từ các địa danh nghèo khổ, quê mùa, mộc mạc lên đến nấc thang quốc tế, hoàn vũ. Người miền Trung đến Sài Gòn để được chuyển hóa. Họ mang bản sắc cá tánh và nhân cách địa phương đến đô thị để va chạm và sinh tồn vốn đòi hỏi họ phải thay đổi. Anh chàng Hà Tĩnh đi mô cũng ngậm điếu thuốc vấn trên môi nay phải giấu đi khi ra khỏi nhà vì sợ mấy cô Sài Gòn thanh lịch che miệng nhìn cười. Nỗi ấm ức đầy mặc cảm của dân miền xa khi sánh vai với dân đô thị làm cho họ vươn lên bằng ý chí khát sống, háo thắng như một bản năng. Người Sài Gòn nhận xét rất bén về dân nhập cư. Hãy nói cho họ biết về quê quán của ngươi là họ sẽ biết gần hết về con người của bạn. Từ cuối Thế kỷ 17, khi nhà Nguyễn thành lập Phủ Gia Định, với tên gọi Sài Gòn, thì đô thị mới này thể hiện tinh thần phóng khoáng của miền sông nước đầy năng động. Có lẽ ngoại trừ vụ tàn sát người gốc Hoa ở Chợ Lớn năm 1782 bởi lính của Tây Sơn Nguyễn Nhạc hay những năm sau 1975, dân Sài Gòn, so với các địa phương khác, ít bị những chấn thương lịch sử lớn. Có lẽ vì thế mà dân ở đây chấp nhận và dung hòa nhiều sắc dân rất khác biệt nhau về sinh sống. Dân Sài Gòn không căm thù, giết nhau vì khác biệt gốc gác. Quá lắm thì họ chỉ ghẹo dân Nghệ An một cách vô hại, dí dỏm, "Thằng xứ Nghệ ăng coong cá gỗ kìa," hay dân Hà Nội 54, "Ê thằng Bắc kỳ rau muống kia!" Tuy nhiên, nếu bạn hỏi, từ góc độ địa lý, thì dân di cư miền nào xưa nay năng động nhất ở Sài Gòn, thì có lẽ họ sẽ nói là dân Quảng Nam, và sau 1954, dân di cư Hà Nội, Hải Phòng. Cho đến khoảng 10 năm trở lại đây, ví dụ, dân gốc Quảng Nam kiểm soát gần hết năm lãnh vực sinh hoạt, công quyền và kinh tế Sài Gòn: báo chí, công an, quán bia, bê thui và dệt may. Thời chiến tranh Quốc-Cộng, phần lớn các cán bộ Việt Cộng nằm vùng là người Quảng Nam. Cho đến ngày nay vẫn thế, dân gốc Quảng Nam vẫn là thành phần năng nổ nhất ở Sài Gòn, từ các nhóm bất đồng chính kiến đến văn chương, nghệ thuật. Trong khi dân Hải Phòng dù năng động, hay dân gốc Hà Nội văn hay chữ tốt cũng bị dân gốc Quảng Nam gạt ra lề. Hỏi một nhà báo về lãnh đạo truyền thông ở Sài Gòn thì hầu hết là dân gốc Quảng Nam. Ngay cả dân gốc Thanh Nghệ Tĩnh cũng chỉ vươn lên ở lãnh vực khoa bảng, chính trị lãnh đạo, hay đại gia tư bản thân hữu, nhưng nhìn chung, về bình diện dân sự quần chúng, người Quảng Nam vẫn làm chủ tình hình. End of Đọc nhiều nhất Lạ lùng nhất là dân di cư gốc Huế ở Sài Gòn lại là khối dân bất động, liệt cơ, rất ít có nổi lên ở bất cứ lãnh vực nào, ngoại trừ trong các giáo hội Phật hay Công giáo. Có lẽ sự suy tàn của kinh đô và triều đại nhà Nguyễn ở Huế đã kéo theo sự tê liệt ý chí thế gian của con cháu xứ thần kinh Phú Xuân. Nhìn chung, ta có thể nhận thấy một điều hiển nhiên: Người Hà Nội, hay Huế, có thể trở thành người Sài Gòn, từ giọng nói, đến tính cách – nhưng ngược lại thì không. Dân Sài Gòn có ra Hà Nội sinh sống từ nhỏ vẫn không trở thành người miền Bắc. Hình như Sài Gòn là trạm cuối – the final destination – cho đoàn xe lửa một chiều của dân tộc. Điều đó cho ta thấy rằng văn minh Sài Gòn từng đứng ở điểm cao nhất trong chiều dài tiến hóa của tâm hồn Việt Nam. Chỉ khi đi ra khỏi nước, như trường hợp sau 1975, khi định cư ở một nền văn hóa cao hơn, thì người Sài thành mới trở thành người ngoại quốc – một cách dễ dàng. Làm người Việt, khi là một thành tố của dân tộc, đối với dân Sài Gòn, có lẽ là một gánh nặng, hơn là một ân huệ. Các khu phố Little Saigon khắp nơi trên thế giới chỉ là mối vương vấn tạm thời cho thành phố cũ. Từ khi nhà Minh sụp đổ ở giữa thế kỷ 17, khi Mạc Cửu và Dương Ngạn Địch đem các dòng vọng tộc bị thất sủng sang miền Nam lánh nạn thì Sài Gòn đã nhận được một món quà con người lớn. Con cháu nhà Minh mang di sản tiến hóa cao cấp, tánh tình nhân hậu, hiền hòa, ngoại hình xinh đẹp, đến xây dựng miền Nam, nhất là các đô thị miền Tây. Từ đó, Sài Gòn là thủ phủ thừa hưởng gia tài văn minh nhân loại lớn đó. Nếu các đại gia ở Sài Gòn muốn tìm thuê một gia nhân ở đợ, họ chỉ tìm các cô gái, các bà gốc miền Tây. Người miền Tây, mang dòng máu vọng tộc nhà Minh, với bản tánh hiền hòa, nặng chữ tín, không gian xảo, từ lâu vốn là một nguồn đạo đức khá vững chắc xây dựng văn hóa Sài Gòn. Họ không có khiếu văn chương, học thuật, hay mang tham vọng quyền lực, nhưng họ giỏi về buôn bán, kinh doanh, trọng chữ tín. Họ là xương sống văn hóa bình dân Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn. Nếu bạn có lần đứng chờ taxi dưới mái hiên phố Sài Gòn trong cơn mưa xối xả thì người Hoa trong nhà sẽ đem cho bạn chiếc ghế để bạn ngồi. Văn minh Trung Hoa, từ bình diện nhân cách phổ thông, đã cho Sài Gòn một khối quần chúng như là món quà ân sủng di dân từ bi kịch lịch sử từ mấy thế kỷ trước. Có lẽ, người gốc Hoa đã từ lâu quân bình hóa, ít nhất từ bình diện tánh khí, nhân cách, cho các khối dân di cư từ miền Bắc và miền Trung vốn khá hung hãn, đầy mưu mô, nhiều tài năng. Nếu dân gốc Quảng Nam hay Thanh Nghệ Tĩnh là luồng năng lực tiên phong, thì dân gốc Hoa là nền móng nhân bản hiền hòa cho văn minh Sài Gòn. Khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ năm 1975, những năm sau đó là phong trào di cư, tỵ nạn vươn ra biển lớn. Người Sài Gòn qua Hoa Kỳ tìm đường sống mới. Lần đầu tiên, có lẽ chỉ sau Nguyễn Ánh ở cuối thế kỷ 18, chưa có lần nào dân tộc Việt Nam nhìn đại dương, thay vì ngại trước không gian hiểm nguy ngăn cách, là một cơ hội thoát ly. Khi xưa Nguyễn Ánh thành lập hạm đội hải quân để trở về lấy lại quê hương, thì sau 1975, người Việt, phần lớn là từ Sài Gòn và các tỉnh duyên hải miền Tây, đã liều mình làm thuyền nhân để từ bỏ quê nhà. Tức là dân vượt biên Sài Gòn là những tín đồ Nguyễn Ánh đảo ngược. Khi họ ra đi, sống chết mong manh, niềm hy vọng vùng đất mới Hoa Kỳ, hay Âu châu, đã mạnh mẽ thúc đẩy họ hơn là sự níu kéo của quê hương để ở lại. Nếu Nguyễn Ánh vươn ra biển để lấy lại cơ đồ giang sơn, thì ngược lại, dân Sài Gòn muốn từ bỏ một thứ số phận địa lý ngặt nghèo. Từ viễn cảnh lịch sử lâu dài, có thể nói rằng, phong trào vượt biển sang các nước Âu Mỹ sau 1975 là một cột mốc lớn, một ân huệ lịch sử – dù đầy đau thương. Dân tộc Việt Nam, lần đầu, được giải phóng khỏi định mệnh địa lý vốn trói chặt
多角的分析
サイゴン(ホーチミン市)は、ベトナム経済の中心地として、国内各地からの労働力と資本を引きつけてきました。この記事で触れられているように、クアンナム省出身者が報道、警察、商業などの分野を支配している事実は、特定の地域出身者が経済的・社会的に優位性を確立する構造を示唆しています。これは、ベトナムの一党体制下における、党や政府との関係性、あるいは過去の歴史的背景が、現代の経済的影響力にどのように影響しているかという構造的な問題を浮き彫りにします。特に、1975年以降の移住者たちが、国外で新たな経済的機会を追求したことは、ベトナム経済のグローバル化と、国内経済における人材の流動性・定着性に関する洞察を与えます。
この記事は直接的な投資環境に言及していませんが、サイゴンが国内外からの移住者や資本を引きつける「中継地点」としての役割を強調しています。これは、ベトナム経済の成長が、人的資本の移動と、それによってもたらされる多様なスキルやネットワークに大きく依存していることを示唆しています。特に、1975年以降に国外へ移住した「ボートピープル」たちが、新たな土地で経済的成功を収めた事例は、ベトナム系ディアスポラが持つ潜在的な投資力や、ベトナム経済への送金・投資といった形で、将来的な経済的影響力を持つ可能性を示唆しています。中国系移民がサイゴンの商業基盤を築いた歴史も、外国からの直接投資とは異なる、長期的な経済的貢献の重要性を示しています。
この記事は、サイゴンが多様な民族集団の集まる「記憶の宿」として、アイデンティティの形成に果たす役割を深く掘り下げています。1975年以降の移住者にとって、サイゴンは失われた過去への郷愁の対象であり、同時に国外での新たな生活におけるアイデンティティの基盤となっています。クアンナム省出身者の社会的な影響力の強さや、フエ出身者の相対的な停滞は、地域ごとの社会構造や歴史的背景が、現代社会における人々の立ち位置に影響を与えていることを示しています。また、中国系移民がサイゴンの庶民文化に与えた影響は、多様な文化が共存し、相互に影響を与え合う社会のあり方を示唆しています。
サイゴンは、ベトナム全土から人々が集まる「民族の列車」の終着駅として、そのアイデンティティを形成してきました。1975年以降、国外へ移住した人々にとって、サイゴンは失われた故郷へのノスタルジアであり、同時に新たな国での生活における「ベトナム人」としてのアイデンティティの源泉となっています。クアンナム省出身者が社会の様々な分野で主導的な役割を果たしている一方で、フエ出身者の活動が限定的であるといった描写は、地域ごとの社会的なダイナミズムと、それが個々の市民の生活や機会に与える影響を示唆しています。また、中国系住民がサイゴンの庶民文化に根差した誠実さや信頼性をもたらしたという言及は、社会の多様性がどのように共存し、支え合っているかを示しています。
背景・歴史的文脈
ベトナム南部、特にサイゴン(現ホーチミン市)は、歴史的に多様な民族や文化が集まる交易・交流の拠点でした。17世紀以降、明朝滅亡後の中国人(華僑)の移住、そしてベトナム北中部からの移住者の流入により、都市の人口構成と文化は豊かになりました。1954年のベトナム分割後、北からの多くの人々が南へ移住し、サイゴンはさらに国際色を帯びました。1975年のベトナム統一後、多くのサイゴン市民が「ボートピープル」として国外へ脱出しました。彼らは各地で「リトルサイゴン」を形成し、故郷への記憶を抱きながら、新たな社会で経済的成功を収めました。この記事は、この1975年以降の移住者の視点から、サイゴンが地理的・歴史的に、人々の記憶、アイデンティティ、そして民族的・地域的影響力の交差点として、どのように機能してきたかを考察しています。
原文ソース
BBC Vietnamese